This is default featured slide 1 title

Go to Blogger edit html and find these sentences.Now replace these sentences with your own descriptions.

This is default featured slide 2 title

Go to Blogger edit html and find these sentences.Now replace these sentences with your own descriptions.

Thứ Năm, 15 tháng 11, 2018

Cách ra đề thi THPT quốc gia không đánh đố, phân loại rõ thí sinh

Dưới đây sẽ là quan điểm của Thầy giáo Phạm Xuân Anh (giáo viên môn Toán THPT) về việc ra đề thi THPT quốc gia.

Cách ra đề thi THPT quốc gia không đánh đố mà vẫn phân loại thí sinh

 
Đề Toán vào ĐH Y Hà Nội năm 2000 toàn câu trong sách giáo khoa, mang tính lý thuyết, nhưng để làm được thí sinh cần hiểu sâu kiến thức.

Với tư cách là một giáo viên môn Toán THPT, qua đề thi môn Toán THPT quốc gia vừa rồi, tôi xin đưa ra thêm một góc nhìn về chuyện ra đề thi. Để nói về việc ra đề thi, ở đây minh họa bằng đề thi môn Toán, tôi xin kể hai câu chuyện:

Năm thứ nhất của sinh viên Khoa Toán, Đại học Khoa học tự nhiên (Đại học Quốc gia Hà Nội) có môn Đại số đại cương. Đây là môn học khó vì rất trừu tượng. Năm đó thầy dạy lớp chúng tôi là một giáo sư Toán nổi tiếng. Ngoài việc giảng dạy ở Việt Nam, thầy còn tham gia giảng dạy tại một trường đại học lớn tại Nhật Bản. Khi học rất khó nhưng khi thầy ra đề thi thì lại có vẻ... đơn giản: toàn nêu định nghĩa, chứng minh định lý rồi áp dụng để giải bài tập.

Tuy nhiên, vấn đề chính lại ở đó. Muốn làm được bài, sinh viên phải hiểu sâu vấn đề. Nếu học gạo, học mì ăn liền, chỉ cần nhớ công thức rồi áp dụng vào giải các bài tập thì sẽ không thể làm được, nghĩa là đề thi kiểu này hoàn toàn không hề đơn giản. Trong đề thi có câu, đại ý: "Hãy định nghĩa phần tử trung hòa của một không gian toán E. Ký hiệu phần tử trung hòa là 0, dùng định nghĩa để chứng minh rằng a*0 = 0; a + 0 = a với a thuộc E".

Ở đây có một chút về chuyên môn nghe có vẻ khó hiểu, nhưng thực tế cũng không đến nỗi khó hiểu lắm. Số 0 chẳng hạn, chúng ta vẫn dùng một cách tự nhiên, nhưng với những người nghiên cứu Toán thì cần phải định nghĩa rồi mới được sử dụng. Ví dụ, cụ thể để minh họa cho điều này thì số 0 là một phần tử trung hòa trên tập hợp số tự nhiên, hiển nhiên a + 0 = a; a * 0 = 0 với bất cứ số tự nhiên a nào.

Câu hỏi này nghe thì đơn giản nhưng lại rất bất ngờ và khó với đa số sinh viên lớp chúng tôi. Nếu như áp dụng ngay công thức thì sẽ có ngay kết quả a + 0 = a; a * 0 = 0. Tuy nhiên, để xây dựng công thức này, tức là hiểu thật sâu vấn đề thì không hề đơn giản.

Trong đề thi còn nhiều câu khác hoàn toàn trong những phần đã học, không đánh đố. Nhưng như đã nói ở trên, để làm được thì sinh viên phải hiểu rất sâu vấn đề, tức là phải chịu học, chịu khó tìm tòi. Kết quả là số sinh viên lớp chúng tôi bị rớt môn này rất cao, chiếm đến 2 phần 3.

Qua thời gian chúng tôi nhận thấy rằng những người điểm tốt môn này là những người thành công trong cuộc sống sau này: ở nước ngoài nhiều người là giáo sư, tiến sĩ tại những trường đại học hàng đầu của Mỹ, Pháp, Nhật; ở trong nước thì có người làm chủ doanh nghiệp, có tài sản rất lớn dù tuổi đời còn trẻ.



Câu chuyện thứ hai là những năm trước khi các trường đại học tổ chức đề thi riêng biệt thì đề thi của Đại học Y Hà Nội là một trong những đề thi khó nhất. Đề thi Toán năm 2000 của trường này toàn là những câu trong sách giáo khoa, mang tính lý thuyết. Tuy vậy để làm được thí sinh cần hiểu rất sâu kiến thức. Trong đề thi có câu: "Hãy tính đạo hàm theo định nghĩa của hàm số y = 2000 mũ x", hiển nhiên là hoàn toàn trong sách giáo khoa, không đánh đố, không cần... đi học thêm vẫn có thể làm được.

Tuy nhiên lại không hề đơn giản như vậy. Nếu áp dụng công thức thì chỉ đúng một dòng. Nhưng ở đây không được áp dụng mà phải xây dựng công thức đó, tức là cần hiểu rất sâu vấn đề. Và chỉ những thí sinh với tư duy sâu sắc, suy luận logic... mới có thể giải được. Kết quả là sinh viên Y Hà Nội thường là những thí sinh giỏi nhất như chúng ta thấy.


Trở lại vấn đề về đề thi Toán THPT quốc gia năm học 2018-2019 vừa qua, dù kỳ thi đã diễn ra được mấy tháng nhưng dư âm về độ khó, nhiều câu mang tính đánh đố của đề thi môn Toán vẫn còn nóng.



Cách ra đề thi THPT quốc gia không đánh đố, phân loại rõ thí sinh
Thí sinh tham gia kỳ thi THPT quốc gia năm học 2018-2019


Qua hai câu chuyện trên, tôi muốn đưa ra một góc nhìn của mình về chuyện ra đề thi. Không cần phải đánh đố, không cần cao siêu, chỉ cần trong sách giáo khoa với những câu hỏi kiểu: chứng minh lại định lý; giải bài toán theo định nghĩa, giải bài tập trong bài đọc thêm... thì chúng ta vẫn có thể tuyển chọn được những thí sinh có lực học tốt, đồng thời vẫn có thể phân loại thí sinh được vì người giỏi thực sự cần phải hiểu sâu sắc vấn đề. Ở Khoa Toán, Đại học Khoa học Tự nhiên (Đại học Quốc gia Hà Nội), những người dạy lý thuyết Toán đều là những giáo sư, tiến sĩ Toán nổi tiếng, dạy bài tập thường là những trợ giảng.

Với đề thi hoàn toàn trong sách giáo khoa thì tình trạng học thêm, dạy thêm sẽ hạn chế rất nhiều (mà nếu có thì học sinh sẽ được học kỹ về định nghĩa, định lý trong sách giáo khoa, tức là sẽ hiểu sâu kiến thức gốc chẳng phải là tốt lắm sao). Điều quan trọng hơn là giúp học sinh chúng ta phải hiểu sâu kiến thức Toán phổ thông, gốc của mục đích giảng dạy môn Toán cho học sinh phổ thông.

Khi hiểu sâu sắc kiến thức Toán phổ thông, học sinh sẽ có tư duy logic, suy luận sắc bén, giúp các em có nền tảng, kỹ năng tốt để bước vào đời. Ngoài chuyện ra đề thi quốc gia thì còn có những đề 15 phút, một tiết, học kỳ..., việc ra đề thi hoàn toàn trong sách giáo khoa để vừa giúp học sinh hiểu sâu vấn đề, vừa có thể phân loại học sinh là hoàn toàn có thể được. Điều này không chỉ đúng với riêng môn Toán mà các môn khác cũng vậy!

>> Nguồn: Phạm Xuân Anh (VnExpress)


Thứ Hai, 12 tháng 11, 2018

ĐHQG Hà Nội đứng thứ 502 toàn cầu về lĩnh vực Vật lý


Báo Tin tức Hoa Kỳ (US News) vừa công bố bảng xếp hạng các trường ĐH tốt nhất toàn cầu, theo đó ĐHQG Hà Nội là cơ sở giáo dục ĐH duy nhất của Việt Nam được xếp hạng, đứng thứ 502 toàn cầu về Vật lý. 

ĐHQG Hà Nội đứng thứ 502 toàn cầu về lĩnh vực Vật lý
Trường Đại học Quốc gia Hà Nội

Báo Mỹ xếp hạng lĩnh vực Vật lý của ĐHQG Hà Nội đứng thứ 502 toàn cầu
Báo Tin tức Hoa Kỳ vừa công bố bảng xếp hạng các trường ĐH tốt nhất toàn cầu (Best Global Universities rankings) lần thứ 5 năm 2018. Theo đó, ĐHQG Hà Nội là cơ sở giáo dục ĐH duy nhất của Việt Nam có lĩnh vực Vật lý được xếp hạng, đứng thứ 502 toàn cầu.

Phương pháp xếp hạng của bảng xếp hạng các trường ĐH tốt nhất toàn cầu gồm 13 tiêu chí gồm: Uy tín nghiên cứu toàn cầu (trọng số 12,5%); Uy tín nghiên cứu khu vực (trọng số 12,5%); Công bố khoa học (trọng số 10%); Sách (2,5%), Hội thảo (2,5%); Tác động của trích dẫn chuẩn hóa (10%), tổng số trích dẫn (10%); Số công bố khoa học thuộc top 10% được trích dẫn nhiều nhất (12,5%); Tỷ lệ phần trăm của tổng số công bố khoa học thuộc top 10% được trích dẫn nhiều nhất (10%); Hợp tác quốc tế (5%); Tỷ lệ phần trăm công bố từ hợp tác nghiên cứu (5%); Số công bố có trích dẫn nhiều nhất trong số 1% được trích dẫn nhiều nhất của lĩnh vực khoa học (5%); Tỷ lệ phần trăm số công bố thuộc top 1% công bố được trích dẫn nhiều nhất (5%).

ĐHQG Hà Nội đứng thứ 502 toàn cầu về lĩnh vực Vật lý
Khoa Vật lý - Đại học Quốc gia Hà Nội

Kết quả xếp hạng lĩnh vực Vật lý của Việt Nam theo các tiêu chí trên như sau, Uy tín nghiên cứu Vật lý khu vực (Physics regional research reputation) có thứ hạng 62, Tỷ lệ công bố Vật lý từ hợp tác nghiên cứu (Physics percentage of total publications with international collaboration) có thứ hạng 83, các tiêu chí khác được xếp từ vị trí 252 – 696, trong đó uy tín nghiên cứu Vật lý toàn cầu có thứ hạng 472.

Báo Mỹ xếp hạng lĩnh vực Vật lý của ĐHQG Hà Nội đứng thứ 502 toàn cầu
Sinh viên ĐH Quốc gia Hà Nội thực hành
Cũng theo bảng xếp hạng này, trong khu vực Đông Nam Á, Thái Lan có ĐH Mahidol được xếp thứ 494, ĐH Chulalonkorn được xếp thứ 548 toàn cầu trong số 9 cơ sở giáo dục ĐH được US NEWS xếp hạng; Malaysia có ĐH Malaya với thứ hạng 266 trong số 8 cơ sở giáo dục được xếp hạng.
Bảng xếp hạng các trường ĐH tốt nhất toàn cầu đánh giá 1.372 trường ĐH và xếp hạng 1.250 trường ĐH từ 75 quốc gia, dựa trên cơ sở dữ liệu của Hệ thống cơ sở dữ liệu khoa học ISI, hiện nay được duy trì bởi Clarivate Analytics (trước đây là phần kinh doanh Sở hữu Trí tuệ và Khoa học của Thomson Reuters).

Thanh Hùng (Vietnamnet)

Thứ Sáu, 9 tháng 11, 2018

Việt Nam giữ vị trí trung bình trên bảng xếp hạng các quốc gia về kỹ năng tiếng Anh


Việt Nam xếp thứ 41/88 quốc gia và vùng lãnh thổ trong bảng xếp hạng đánh giá kỹ năng tiếng Anh của những người trưởng thành trên toàn cầu do Tổ chức giáo dục Education First (EF) vừa công bố tại Thụy Sĩ

Bảng xếp hạng dựa trên cơ sở dữ liệu 1,3 triệu người sử dụng tiếng Anh là ngoại ngữ trên 88 quốc gia và vùng lãnh thổ, tăng 8 quốc gia so với năm 2017.

Năm nay có 88 quốc gia và vùng lãnh thổ trong bảng xếp hạng, tăng 8 quốc gia so với năm 2017.

Việt Nam xếp thứ 41/88 với chỉ số thông thạo Anh ngữ ở mức trung bình (năm 2017 Việt Nam xếp thứ 34/80 quốc gia), xếp trên Trung Quốc, Đài Loan, Nhật Bản, Thái Lan, Indonesia... Trong số 21 quốc gia của Châu Á, Việt Nam xếp thứ 7, sau Singapore, Philipines, Malaysia, Ấn Độ, Hongkong, Hàn Quốc (trừ Hàn Quốc, các quốc gia này đều dùng tiếng Anh như ngôn ngữ thứ 2).

Điểm trung bình của người dự thi bài thi EPI của Việt Nam là 53,12 (năm 2017 là 53,43) - đang ở mức trung bình.

Từ năm 2017 về trước số thí sinh dự thi bài thi này thuộc Hà Nội và TP HCM, năm nay số thí sinh dự thi mở rộng ra thêm Đà Nẵng, Hải Phòng và Cần Thơ. Nếu chỉ xét các thí sinh ở Hà Nội và TP HCM như năm 2017 thì điểm trung bình tăng từ 54,6 lên 55,45. Từ năm 2011 đến nay, điểm chỉ số thông thạo Anh ngữ của EF đối với Việt Nam ở xu hướng tăng dần.

Cũng theo bảng xếp hạng này, Thụy Điển xếp hạng cao nhất về chỉ số thông thạo Anh ngữ. Hà Lan xếp vị trí thứ hai.

Theo báo cáo chỉ số thông thạo Anh ngữ toàn cầu năm nay, Châu Âu vẫn dẫn đầu thế giới về mức độ thông thạo Anh ngữ, với 8/10 quốc gia dẫn đầu bảng xếp hạng.

Singapore trở thành quốc gia Châu Á đầu tiên lọt vào top 3 bảng xếp hạng. Tuy nhiên, các quốc gia trong châu Á có sự phân hóa lớn về trình độ.  Việt Nam xếp thứ 7 trong tổng số 21 quốc gia châu Á tham gia khảo sát.

Châu Phi thể hiện sự tiến bộ về sự thông thạo Anh ngữ hơn những châu lục khác, với Algeria, Ai Cập và Nam Phi tăng từ 2 điểm trở lên.

Châu Mỹ La Tinh là châu lục duy nhất có chỉ số thông thao Anh ngữ giảm nhẹ. Điểm số giữa các quốc gia khá đồng đều, chỉ có khoảng cách nhỏ giữa các quốc gia trong khu vực.

 
viet nam giu vi tru trung binh tren bang xep hang cac quoc gia ve ky nang tieng anh
Bảng xếp hạng mức độ thành thạo tiếng Anh giữa các quốc gia châu Á

Theo đánh giá của EF, đối với Việt Nam, giai đoạn từ 2011 đến 2015, mức tăng trưởng rõ rệt qua từng năm và Việt Nam đã đi từ mức “Rất thấp” tới “Thấp” và giữ ở mức độ “Trung bình” từ năm 2016.

Trong năm 2018, báo cáo mở rộng phạm vi đánh giá trên 5 tỉnh thành (Hà Nội, TP. Hồ Chí Minh, Đà Nẵng, Hải Phòng và Cần Thơ) thay vì 2 thành phố (Hà Nội và TP Hồ Chí Minh) như các năm trước.

viet nam giu vi tri trung binh tren bang xep hang cac quoc gia ve ky nang tieng anh
Xếp hạng trung bình của VN từ 2011 -2018 và trình độ theo tỉnh thành từ 2014-2018


Và nếu so sánh trên cùng phạm vi ( Hà Nội và TP.HCM) so với năm 2017, mức độ thông thạo Tiếng Anh của Việt Nam tăng từ 54.6 lên 55.45 điểm.  Điều này cho thấy đã có sự tiến bộ trong việc học tiếng Anh ở Việt Nam năm nay so với năm trước.
Theo bà Cao Phương Hà, Giám đốc điều hành EF Việt Nam, giáo dục Việt Nam đã có những đổi mới về chính sách và phương thức triển khai, tuy nhiên để nâng cao hơn trình độ Anh ngữ cần tiếp tục đổi mới tích cực hơn nữa trong những năm tiếp theo. Bà nhấn mạnh rằng việc đào tạo ngôn ngữ cần hướng đến mục tiêu cao nhất là người học có thể làm chủ ngôn ngữ chứ không phải là điểm số hay thành tích đơn thuần.

>> Nguồn: Thanh Hùng (Báo Vietnamnet)


Thứ Sáu, 2 tháng 11, 2018

Bộ Nội vụ đề xuất bổ sung gần 27.000 biên chế giáo viên mầm non

Bộ Nội vụ đề nghị bổ sung biên chế cho bậc mầm non đối với 17 tỉnh có tăng dân số cơ học là 20.973 giáo viên và 15 tỉnh Tây Nguyên là 5.735 giáo viên. 

Tại kỳ họp thứ 6, Quốc  hội khóa XIV, vấn đề thiếu giáo viên khối mầm non và tiểu học song đến thời điểm này, tình trạng thiếu giáo viên vẫn đang là vấn đề cấp thiết của nhiều địa phương.
Bộ Nội vụ đề xuất bổ sung gần 27.000 biên chế giáo viên mầm non

Bộ trưởng Bộ Nội vụ Lê Vĩnh Tân (ảnh: quochoi.vn)
Trước những thắc mắc của các đại biểu Quốc hội, Bộ trưởng Bộ Nội vụ Lê Vĩnh Tân cho biết, từ năm 2011, Thủ tướng Chính phủ ban hành quyết định số 60 ngày 26/10/2011 đã quy định một số chính sách đối với phát triển giáo dục mầm non.
Để thực hiện chủ trương đó, Bộ GD-ĐT đã thực hiện phổ cập giáo dục mầm non trẻ em 5 tuổi. Bên cạnh đó là thực hiện giáo viên đang dạy chế độ hợp đồng tại các cơ sở mầm non dân lập và bán công sẽ được hưởng tất cả các chế độ như giáo viên mầm non công lập.
Tuy nhiên, từ năm 2011 cho đến nay, rất ít địa phương thực hiện việc chuyển từ chế độ hợp đồng sang biên chế cho giáo viên ngành mầm non.
Bộ trưởng Bộ Nội vụ Lê Vĩnh Tân cho biết, vấn đề thực hiện tinh giản biên chế theo Nghị quyết 39 và thực hiện Nghị quyết 19 của Hội nghị Trung ương 6, đây là một chủ trương lớn, trong đó có các đơn vị sự nghiệp công lập nói chung và ngành giáo dục nói riêng. Nhưng riêng ngành giáo dục, có thể nói đây là ngành có tỷ lệ người làm việc theo chế độ hợp đồng lao động nhiều nhất, gần 1 triệu giáo viên. Đặc điểm của ngành này là thừa thiếu cục bộ ở từng địa phương trong từng cấp học, bậc học.
Theo số liệu báo cáo của Bộ GD-ĐT, hiện nay trong toàn ngành, từ cấp mầm non đến phổ thông thiếu 107.996 giáo viên, trong đó số thừa là 8.997 giáo viên so với định mức. Riêng mầm non thiếu 65.065 giáo viên, số tiểu học thiếu hơn 20.000 giáo viên, trong đó tiểu học có thiếu nhưng cũng có thừa.
Theo kết luận tại cuộc họp tháng 5/2018 của Thủ tướng Chính phủ qua Nghị quyết 74 và Nghị quyết 24 ngày 6/10/2018, Chính phủ giao cho Bộ Nội vụ cùng với Bộ GD-ĐT và Bộ Tài chính tham mưu trong việc đảm bảo đủ giáo viên đứng lớp dạy, đặc biệt là việc thiếu giáo viên của hệ mầm non.
Bộ Nội vụ cũng đã có hai văn bản trình Chính phủ, trong đó có Văn bản số 5068 ngày 11/10/2018, đề nghị Chính phủ xem xét và bổ sung biên chế cho bậc mầm non đối với 17 tỉnh có tăng dân số cơ học là 20.973 giáo viên và 15 tỉnh Tây Nguyên là 5.735 giáo viên. Bên cạnh đó là rà soát lại tất cả giáo viên hợp đồng trước năm 2015 để chúng ta có cách xử lý phù hợp trong điều kiện ưu tiên để tuyển chọn số giáo viên trong biên chế chưa tuyển đủ.
Về mặt lâu dài, Bộ Nội vụ cũng đã có đề nghị thực hiện 6 giải pháp sau để khắc phục tình thừa, thiếu giáo viên.  
Thứ nhất, rà soát lại số học sinh, giáo viên thực tế để giải quyết tình trạng dư thừa giáo viên. Thứ hai, xây dựng và hoàn thiện các nghị định quy định của Chính phủ về vấn đề tự chủ đối với các đơn vị sự nghiệp công lập. Thứ ba, xây dựng cơ chế chuyển đổi mô hình đối với các cơ sở giáo dục mầm non và trung học phổ thông từ công lập khuyến khích chuyển sang ngoài công lập. Thứ tư, rà soát lại định mức giáo viên trên lớp, học sinh trên lớp và giảng dạy trong tuần. Thứ năm, nghiên cứu chuyển giáo viên ở nơi thừa sang nơi thiếu và có đào tạo lại. Giải pháp cuối cùng là hoàn thiện lại các đề án vị trí việc làm sau khi chúng ta đã sáp nhập các đơn vị trong giáo dục mầm non.
>> Nguồn : vov.vn